Thế nào là thiết thực hiện tại? Kinh Upavāna

Chương 35: Tương Ưng Sáu Xứ Linked Discourses  Saṁyutta Nikāya 
II: Phẩm Migajāla 7. With Migajāla 7. Migajālavagga
35.70. Upavāna (1) Upavāṇa on What is Visible in This Very Life Upavāṇasandiṭṭhikasutta 
(Tỳ khưu Thích Minh Châu dịch) (translated by Bhikkhu Sujato) Mahāsaṅgīti Tipiṭaka Buddhavasse 2500
Rồi Tôn giả Upavāna đi đến Thế Tôn …
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upavāna bạch Thế Tôn:
Then Venerable Upavāṇa went up to the Buddha … and said to him: Atha kho āyasmā upavāṇo yena bhagavā tenupasaṅkami …pe…ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upavāṇo bhagavantaṁ etadavoca: 
: “Thiết thực hiện tại, thiết thực hiện tại (Sanditthika)”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người có trí tự mình giác hiểu? “Sir, they speak of ‘a teaching visible in this very life’. In what way is the teaching visible in this very life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves?” “‘sandiṭṭhiko dhammo, sandiṭṭhiko dhammo’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti? 
—Ở đây, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Cho đến chừng nào sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, và có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu. “Upavāṇa, take a mendicant who sees a sight with their eyes. They experience both the sight and the desire for the sight. There is desire for sights in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is visible in this very life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves. “Idha pana, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti rūparāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti. Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti rūparāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe…. 
Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng … sau khi mũi ngửi hương …
Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Next, take a mendicant who hears … smells … tastes … touches … Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedī ca hoti rasarāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti. Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedī ca hoti rasarāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe…. 
Lại nữa, này Upavāna, sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Cho đến chừng nào sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu. Next, take a mendicant who knows a thought with their mind. They experience both the thought and the desire for the thought. There is desire for thoughts in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is visible in this very life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves. Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedī ca hoti dhammarāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti. Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedī ca hoti dhammarāgappaṭisaṁvedī ca. Santañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti …pe… paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe…. 
Ở đấy, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với sắc”. Cho đến chừng nào, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu. Take a mendicant who sees a sight with their eyes. They experience the sight but no desire for the sight. There is no desire for sights in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is visible in this very life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves. Idha pana, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti, no ca rūparāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti. Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca rūparāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe…. 
Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … Next, take a mendicant who hears … smells … tastes … touches … Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca rasarāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti …pe…. 
Lại nữa, này Upavāna, sau khi ý nhận thức pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Cho đến chừng nào, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức pháp, cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ những người có trí tự mình giác hiểu. Next, take a mendicant who knows a thought with their mind. They experience the thought but no desire for the thought. There is no desire for thoughts in them, and they understand that. Since this is so, this is how the teaching is visible in this very life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.” Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca dhammarāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti. Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca dhammarāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti. 

 

 
Visits: 2177