Không Thâu Nhiếp1

Kinh Không Thâu Nhiếp (1)

Chương 35: Tương Ưng Sáu Xứ Saṁyutta Nikāya Saṁyutta Nikāya 35.136
IV: Phẩm Devadaha Connected Discourses on the Six Sense Bases 14. Devadahavagga
 Không Thâu Nhiếp (1) Delight in Forms (1) Paṭhamarūpārāmasutta 
(Tỳ khưu Thích Minh Châu dịch) (translated by Bhikkhu Sujato) Mahāsaṅgīti Tipiṭaka Buddhavasse 2500
Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú sắc, bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ … thích thú tiếng … thích thú hương … thích thú vị … thích thú xúc … Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú pháp, bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ. “Bhikkhus, devas and humans delight in forms, take delight in forms, rejoice in forms. With the change, fading away, and cessation of forms, devas and humans dwell in suffering. Devas and humans delight in sounds … delight in odours … delight in tastes … delight in tactile objects … delight in mental phenomena, take delight in mental phenomena, rejoice in mental phenomena. With the change, fading away, and cessation of mental phenomena, devas and humans dwell in suffering. “Rūpārāmā, bhikkhave, devamanussā rūparatā rūpasammuditā. Rūpavipariṇāmavirāganirodhā dukkhā, bhikkhave, devamanussā viharanti. Saddārāmā, bhikkhave, devamanussā saddaratā saddasammuditā. Saddavipariṇāmavirāganirodhā dukkhā, bhikkhave, devamanussā viharanti. Gandhārāmā … rasārāmā … phoṭṭhabbārāmā … dhammārāmā, bhikkhave, devamanussā dhammaratā dhammasammuditā. Dhammavipariṇāmavirāganirodhā dukkhā, bhikkhave, devamanussā viharanti. 
     
Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và xuất ly của sắc, không có thích thú sắc, không có ưa thích sắc, không bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc … không thích thú tiếng … không thích thú hương … không thích thú vị … không thích thú xúc … “But, bhikkhus, the Tathagata, the Arahant, the Fully Enlightened One, has understood as they really are the origin and the passing away, the gratification, the danger, and the escape in the case of forms. He does not delight in forms, does not take delight in forms, does not rejoice in forms. With the change, fading away, and cessation of forms, the Tathagata dwells happily. Tathāgato ca kho, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho rūpānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā na rūpārāmo na rūparato na rūpasammudito. Rūpavipariṇāmavirāganirodhā sukho, bhikkhave, tathāgato viharati. 
     
Sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của pháp, Như Lai không thích thú pháp, không ưa thích pháp, không bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, Như Lai sống an lạc. “He has understood as they really are the origin and the passing away, the gratification, the danger, and the escape in the case of sounds … odours … tastes … tactile objects … mental phenomena. He does not delight in mental phenomena, does not take delight in mental phenomena, does not rejoice in mental phenomena. With the change, fading away, and cessation of mental phenomena, the Tathagata dwells happily.” Saddānaṁ … gandhānaṁ … rasānaṁ … phoṭṭhabbānaṁ … dhammānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā na dhammārāmo, na dhammarato, na dhammasammudito. Dhammavipariṇāmavirāganirodhā sukho, bhikkhave, tathāgato viharati”. 
     
Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm: This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this: Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā: 
     
Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Và toàn thể các pháp,
Khả lạc, hỷ, khả ý,
Như vậy, chúng được gọi.
Chư Thiên và Người đời,
Xem chúng là khả lạc,
Chỗ nào chúng đoạn diệt,
Thiên, Nhân thấy đau khổ.
“Forms, sounds, odours, tastes,
Tactiles and all objects of mind—
Desirable, lovely, agreeable,
So long as it’s said: ‘They are.’
“These are considered happiness
By the world with its devas;
But where these cease,
That they consider suffering.
“Rūpā saddā rasā gandhā,
phassā dhammā ca kevalā;
Iṭṭhā kantā manāpā ca,
yāvatatthīti vuccati.
Sadevakassa lokassa,
ete vo sukhasammatā;
Yattha cete nirujjhanti,
taṁ tesaṁ dukkhasammataṁ.
     
Bậc Thánh thấy an lạc,
Khi thân kiến đoạn diệt,
Bậc Thánh xem trái ngược,
Mọi quan điểm của đời.
“The noble ones have seen as happiness
The ceasing of identity.
This view of those who clearly see
Runs counter to the entire world.
Sukhaṁ diṭṭhamariyebhi, 
sakkāyassa nirodhanaṁ;
Paccanīkamidaṁ hoti,
sabbalokena passataṁ.
     
Ðiều người gọi là lạc,
Bậc Thánh gọi là khổ.
Ðiều người gọi là khổ,
Thánh nhân biết là lạc.
“What others speak of as happiness,
That the noble ones say is suffering;
What others speak of as suffering,
That the noble ones know as bliss.
Yaṁ pare sukhato āhu,
tadariyā āhu dukkhato;
Yaṁ pare dukkhato āhu,
tadariyā sukhato vidū.
     
Thấy pháp khó nhận biết,
Kẻ vô trí mê loạn,
Tối tăm đối vô minh,
Mù lòa đối không thấy.
“Behold this Dhamma hard to comprehend:
Here the foolish are bewildered.
For those with blocked minds it is obscure,
Sheer darkness for those who do not see.
Passa dhammaṁ durājānaṁ,
sammūḷhettha aviddasu;
Nivutānaṁ tamo hoti,
andhakāro apassataṁ.
     
Thiện nhân mắt rộng mở,
Thấy rõ ràng ánh sáng,
Sống gần, biết rõ ràng,
Thuần thục trong pháp lớn.
“But for the good it is disclosed,
It is light here for those who see.
The dullards unskilled in the Dhamma
Don’t understand it in its presence.
Satañca vivaṭaṁ hoti,
āloko passatāmiva;
Santike na vijānanti,
maggā dhammassa akovidā. 
     
Bị tham sanh chinh phục,
Bị dòng hữu cuốn trôi,
Bị Ác ma chi phối,
Không giác ngộ pháp này.
“This Dhamma isn’t easily understood
By those afflicted with lust for existence,
Who flow along in the stream of existence,
Deeply mired in Mara’s realm.
Bhavarāgaparetebhi,
bhavarāgānusārībhi;
Māradheyyānupannehi,
nāyaṁ dhammo susambudho.
     
Ngoài Thánh không có ai,
Giác ngộ con đường này,
Con đường đạt Niết-bàn,
Chánh trí thoát lậu hoặc.
“Who else apart from the noble ones
Are able to understand this state?
When they have rightly known that state,
The taintless ones are fully quenched.”
Ko nu aññatra mariyebhi,
Padaṁ sambuddhumarahati;
Yaṁ padaṁ sammadaññāya,
Parinibbanti anāsavā”ti.
Visits: 1604